Press "Enter" to skip to content

Phát triển là gì? Bối cảnh ra đời của khái niệm phát triển

admin 0

Việt Nam đang tiến nhanh trên con đường phát triển. Điều đó đặt ra yêu cầu đối với dữ liệu,thông tin và tri thức về phát triển và nghiên cứu phát triển. Bài viết này trình bày tóm tắt một lịch sử về những nỗ lực tìm tòi xung quanh khái niệm và lý thuyết phát triển.

1. Bối cảnh ra đời khái niệm phát triển

Khởi phát từ thế kỷ Khai sáng, có ba ý niệm thịnh hành trong khoa học xã hội phương Tây về thế giới và lịch sử: đó là tiến bộ, tiến hóa và phát triển. Tiến bộ và tiến hóa là hai ý niệm thịnhhành từ thế kỷ XIX, còn phát triển trở thành thuật ngữ thông dụng từ sau Thế chiến II. Mặcdù có vô số định nghĩa về phát triển, điểm chung của chúng là xem phát triển là một cái gì đó tích cực, đáng mong muốn, đối với một xã hội, một khu vực, hoặc một nhóm người, thậm chí người ta dùng khái niệm này cả đối với cá nhân con người nữa. Từ điển của Nguyễn Lân giải nghĩa phát triển là mở mang rộng r ãi, làm cho tốt hơn lên (gốc Hán, triển là mở rộng ra, phát là làm bật ra, nổi lên, khá lên).
Khái niệm phát triển hình thành vào cuối những năm 1940, trong bối cảnh diễn ra thỏa thuận xây dựng lại trật tự quốc tế mới trên đống tro tàn và ký ức kinh hoàng về hai cuộc đại chiến thế giới. Năm 1944, khi người ta đã thấy r õ k ết cục của Thế chiến II đang đến gần, một hội nghị 44 nước đã diễn ra ở Bretton Woods để thảo luận về trật tự kinh tế quốc tế hậu chiến.Hội nghị này quyết định thành lập hai định chế tài chính quốc tế, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển (sau này gọi là Ngân hàng Thế giới- WB)

Bối cảnh ra đời khái niệm phát triển
Bối cảnh ra đời khái niệm phát triển

Trong thập niên đầu tiên sau chiến tranh, cả hai tổ chức trên đều tập trung vào hỗ trợ tái thiết các nước công nghiệp, mà trước hết vào hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Như vậy, khái niệm phát triển lúc đầu định vị về mặt địa lý vào các nước đã công nghiệp hóa ở Tây Âu, và về mặt nội dung vào tăng trưởng kinh tế. Nhưng đến giữa những năm 1950, thuật ngữ phát triển lại chuyển sang gắn với Thế giới thứ ba, vì lúc này quá trình phi thực dân hóa bắt đầu trở thành tâm điểm chính trị quốc tế, và việc hỗ trợ tái thiết hậu chiến cho các nước đã công nghiệp hóa ở Tây Âu (dưới tên gọi Kế hoạch Marshall) đã kết thúc thành công.

2. Khái niệm phát triển

Trong phép biện chứng duy vật, khái niệm phát triển dùng để chỉ quá trình vận động theo chiều hướng đi lên của sự vật: từ trình độ thấp lên trình độ cao hơn.
Ví dụ, quá trình biến đổi của các giống loài từ bậc thấp lên bậc cao; quá trình thay thế lẫn nhau của các hình thức thức tổ chức xã hội loài người: từ hình thức tổ chức xã hội thị tộc, bộ lạc còn sơ khai thời nguyên thuỷ lên các hình thức tổ chức xã hội cao hơn là hình thức tổ chức bộ tộc, dân tộc…; quá trình thay thế lẫn nhau của các thế hệ kỹ thuật theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn…

3. Những thay đổi trong quan niệm về phát triển

Trong những năm gần đây, thế giới đã chứng kiến những bước thay đổi căn bản về quan niệm phát triển. Khi sự phát triển còn ở vào giai đoạn tốc độ thấp, những vấn đề toàn cầu chưa xuất hiện. Ngày nay, khi tốc độ phát triển đã tăng vọt, những biến đổi vũ bão của thế giới đã và đang kéo theo những vấn đề toàn cầu như chênh lệch giàu nghèo, vấn đề sinh thái, an ninh toàn cầu… đòi hỏi nhân loại phải chung sức giải quyết.
Mặt tiêu cực lớn nhất của phát triển chính là sự cạn kiệt tài nguyên. Cùng với tốc độ phát triển của ngành công nghiệp là sự nhanh chóng lỗi thời của các sản phẩm công nghiệp. Tất cả các sản phẩm ấy lại đều được lấy ra trực tiếp hoặc gián tiếp từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Trong nền kinh tế tư bản, để tăng nhanh vòng quay của vốn, người ta phải tiêu thụ nhanh chóng, phải phá huỷ nhanh cái cũ để tiêu thụ những sản phẩm mới. Trong nền kinh tế tập trung, việc thiếu những nhân tố kích thích cạnh tranh khiến cho việc đổi mới công nghệ và hợp lý hóa sản xuất gần như bị lãng quên. Cả hai xu hướng trên đều dẫn đến hậu quả là sự lãng phí tài nguyên thiên nhiên.

Những thay đổi trong quan niệm về phát triển
Những thay đổi trong quan niệm về phát triển

Thực tế cho thấy, một số quốc gia chạy theo những chỉ tiêu đã được lên kế hoạch và bằng mọi cách đạt mục tiêu đó. Những chỉ số tăng trưởng như thế thực chất chỉ là những chỉ số phản phát triển, cho thấy sự lãng phí năng lượng và nhiên liệu rất lớn. Có thể lấy Trung Quốc làm ví dụ. Nhiều người lo ngại rằng, nếu Trung Quốc tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng “nóng” như hiện nay thì sẽ đưa nền kinh tế nước này đến sự bùng nổ. Hơn nữa, sự phát triển kinh tế đi kèm với sự lạc hậu về chính trị, về công nghệ, về hoạt động tổ chức nhà nước có ý nghĩa phá hoại rất lớn, tức là biến những nguyên liệu có chất lượng cao thành những sản phẩm không dùng được. Chúng tôi cho rằng, đó là bản chất của toàn bộ sự phá hoại các nguồn năng lượng sống. Với một quốc gia rộng lớn như Trung Quốc, quy mô phá hoại ngày càng lớn, nguy cơ biến những cơ sở vật chất, những nguồn năng lượng sống trở thành phế phẩm ngày càng lớn. Tóm lại, sự khai thác một cách thái quá những tài nguyên thiên nhiên hữu hạn mang giá trị vĩnh cửu để chế ra những sản phẩm có giá trị nhất thời, ngắn hạn nhờ sử dụng những thành tựu nhanh chóng của khoa học công nghệ, là sự mất cân đối khủng khiếp đối với đời sống và tương lai của nhân loại.
Ô nhiễm môi trường là hậu quả lớn thứ hai do phát triển lấy mục tiêu tăng trưởng gây ra. Hàng trăm triệu chiếc xe hơi, hàng ngàn nhà máy nhiệt điện đang ngày đêm thiêu đốt nhiên liệu, làm cho lượng CO2 trong khí quyển tăng lên, gây ra hiệu ứng nhà kính. Nạn phá rừng đang làm trái đất bị sa mạc hóa với tốc độ đáng lo ngại. Rừng bị tàn phá khiến lụt lội xảy ra thường xuyên hơn. Hàng triệu tấn dầu mỏ, hóa chất độc hại đang ngày đêm theo sông ngòi đổ vào đại dương. Những kho chất thải hạt nhân nằm âm ỉ trong lòng đất mà cho đến nay con người chưa biết làm cách nào để xử lý được. Khí hậu trái đất nóng lên đang làm tan băng trên hai cực, kết quả là nước biển dâng lên, nhấn chìm hàng triệu héc-ta đất ven biển. Không thể kể hết những tai họa mà ngành công nghiệp của con người đã gây ra cho chính con người. Nếu nhìn nhận một cách khách quan chúng ta phải thấy rằng dường như sự phát triển vừa qua đem lại nhiều tai họa hơn là lợi ích.
Bất bình đẳng trên quy mô thế giới là mặt tiêu cực khác không thể không nhắc đến của sự phát triển không kiểm soát. Sự đổi mới kinh tế cho phép những nước phát triển trước chiếm hữu được nhiều lợi nhuận hơn trong quan hệ kinh tế thế giới. Chính những nước giàu nắm quyền chi phối giá cả và những quy định trên thị trường thế giới. Không những thế, sự bất bình đẳng còn thể hiện trong lĩnh vực khai thác tài nguyên thiên nhiên. Mặc dù về mặt hình thức, các quốc gia có cơ hội như nhau trong việc khai thác vùng biển quốc tế và khí quyển. Nhưng trên thực tế những đội tàu đánh cá và vận tải của vài nước giàu đang chi phối gần như toàn bộ các đại dương. Các nhà máy, xí nghiệp và xe cộ của những nước ấy cũng đang xả ra một lượng khí độc nhiều gấp hàng trăm lần các nước nghèo. Phần lớn lợi nhuận từ sự khai thác và sử dụng tài nguyên thuộc về các nước giàu, nhưng nạn ô nhiễm môi trường lại là vấn đề chung. Sự bất bình đẳng trên quy mô thế giới như vậy tất yếu sẽ dẫn đến mâu thuẫn, đến chiến tranh và tình trạng khủng bố…
Cuối cùng, sự suy thoái văn hóa là kết quả không thể tránh khỏi của những mục tiêu phát triển ngắn hạn. Việc tôn sùng các chỉ tiêu vật chất, bỏ qua hoặc không đánh giá đúng vai trò của văn hóa đối với sự phát triển đã dẫn đến rất nhiều vấn đề xã hội. Ở nhiều nước công nghiệp phát triển tình trạng chung là sự đổ vỡ của gia đình và các quan hệ xã hội truyền thống. Vật chất càng dồi dào con người dường như càng cô đơn. Tâm lý chán chường, bất ổn và thiếu phương hướng hết sức phổ biến trong lớp trẻ. Không phải ngẫu nhiên mà càng ngày ở phương Tây người ta càng nói nhiều đến xu thế trở về với truyền thống. Đó là sự trở về đúng đắn, tuy rằng cũng đã khá muộn màng.
Những vấn đề phát sinh buộc con người phải nhìn nhận lại mục tiêu của sự phát triển. Nếu như chúng ta cứ tiếp tục lấy tăng trưởng làm mục tiêu của phát triển, chúng ta sẽ phá vỡ sự cân bằng của trái đất, và không chỉ trên khía cạnh sinh thái, sự mất cân bằng sẽ làm kiệt quệ tiềm năng của tương lai. Con người cần phải chững lại để nhìn nhận lại, và chúng tôi cho rằng con người đã bắt đầu nhìn ra vấn đề.
Trên thế giới hiện nay người ta đã đưa ra một vài khái niệm, định nghĩa mô tả sự phát triển, tuy nhiên một định nghĩa thống nhất và hoàn chỉnh về sự phát triển vẫn chưa được ngã ngũ. Tôi cho rằng, sự phát triển là trạng thái cho phép chúng ta thỏa mãn những nhu cầu tốt đẹp của con người. Ở đâu con người có năng lực nhận thức tốt hơn, có năng lực và điều kiện hưởng thụ tốt hơn, có điều kiện để tư duy một cách tự do và sáng tạo hơn, có sức cạnh tranh tốt hơn, tóm lại, ở đâu con người cảm thấy hạnh phúc thì ở đó có sự phát triển.
Phát triển, suy cho cùng, chính là sự tăng trưởng những giá trị của con người chứ không phải là tỷ lệ tăng trưởng kinh tế. Chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế là một yếu tố để biểu thị – có lẽ là tập trung nhất – năng lực thỏa mãn nhu cầu của con người, nhưng không phải là tất cả. Khi người ta cố gắng để có được sự tăng trưởng bằng mọi giá thì đó chỉ còn là cuộc chạy đua giữa các nhà chính trị. Chúng tôi cho rằng, sự phát triển chân chính là những khả năng, năng lực và những thành tựu do con người tạo ra chứ không phải là kết quả của những biến hóa chính trị, của sự thống kê mang tính chính trị.

4. Việt Nam đang ngày càng hội nhập vào tiến trình phát triển toàn cầu.

Việt Nam đang ngày càng hội nhập vào tiến trình phát triển toàn cầu. Kết quả là ngày càng nhiều “nhà phát triển” người Việt và người nước ngoài cùng nhau làm việc trên thực địa Việt  Nam, đóng góp vào thành công phát triển chung của đất nước. “Các nhà phát triển” (developer, development agent) đang làm việc ở nhiều lĩnh vực và cấp độ: quy hoạch và hoạch định chính sách phát triển vĩ mô; xây dựng chiến lược phát triển tổng thể, ngành hoặc địa phương; hỗ trợ phát triển ở cấp cơ sở hay dự án, v.v… Nhiều thông tin và tri thức liên quan đến phát triển đã được du nhập, giới thiệu và thực hànhở Việt Nam. Tuy nhiên, theo quan sát của chúng tôi, nhiều người Việt Nam làm công tác nghiên cứu, hoạch định và thực hành phát triển còn chưa có ý thức tìm hiểu đến ngọn nguồn và bản chất kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa của phát triển, đến những khuôn khổ lịch sử và lý luận rộng lớn của phát triển.Tình trạng này hạn chế bản lĩnh của người Việt Nam khi làm việc với các đối tác phát triển nước ngoài, hạn chế khả năng làm chủ tiến trình phát triển của đất nước.Bài viết của chúng tôi ra đời từ nhận xét đó.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Harrison, David. 1997.The Sociology of Modernization and Development . London and  New York: Routledge.
2.C. Mác và Ph. Ăngghen. 1962.M ột số thư về chủ nghĩa duy vật lịch sử . Hà Nội: Nxb. Sự thật.
3.Martinusseu, John. 1977.Society, State and Market: A Guide to Competing Theories of  Development . London and New York: Zed Books Ltd.
4. Nguyễn Lân. 1998.T ừ điển từ và ngữ Việt Nam. Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb. Thành  phố Hồ Chí Minh.
5.Sachs, Wolfgang. 1992.The Development Dictionary. London and New Jersey: Zed Books Ltd.
6.Webster, Andrew. 1992.Introduction to the Sociology of Development  Second Edition. London and Hong Kong: Macmillan.
7.Wischermann, Joerg, Bùi Thế Cường, Nguyễn Quang Vinh. 2002.Quan hệ giữa các tổ chức xã hội và cơ quan Nhà nước ở Việt Nam- Những kết quả chọn lọc của một cuộc khảo sát thực nghiệm ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Hà Nội: Viện Xã hội học.
Các bài viết có thể xem thêm:
nghiệp vụ thị trường mở
phát triển bền vững ở việt nam
mô hình kim cương

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *