Press "Enter" to skip to content

Khái niệm tỷ giá là gì và các loại tỷ giá hiện nay

admin 0

Chắc chắn bạn sẽ thắc mắc tỷ giá là gì khi luôn nghe đến trong thị trường tài chính, khi đồng tiền yết giá luôn có những biến động mạnh mẽ như hiện nay.
Tỷ giá đóng một vai trong qua trong trong nền kinh tế cũng như cách hoạt động của các công ty đa quốc giá và nền kinh tế của các nước trên thế giới hiện nay.
Vì thế khi chuyển tiền hay nộp tiền vào tài khoản ngoại tệ chúng ta luôn cần biết tỷ giá thế nào và hôm nay chúng ta cùng đi tìm hiểu về khái niệm tỷ giá là gì và các loại tỷ giá hiện nay bao gồm những gì để bạn có cái nhìn tổng quan nhất về thị trường này nhé.

1/ Khái niệm tỷ giá là gì?

Khái niệm tỷ giá là gì?
Khái niệm tỷ giá là gì?

Tỷ giá chính là mức giá tại một thời điểm mà đồng tiền của một quốc gia hay khu vực có thể được chuyển đổi sang một loại đồng tiền của quốc giá, khu vực hay ngoại tệ khác.
Theo đó, tỷ giá sẽ được tính bang số đơn vị nội tệ trên một đơn vị ngoài tệ khi chuyển đổi vì thế mức tỷ giá luôn được tính tại thời điểm giao dịch và luôn có sự biến động tùy mỗi thời điểm.
Trên thế giới hiện nay, tỷ giá được niêm yết theo thị trường giao dịch có nghĩa là đồng tiền yết giá đứng trước và đồng tiền được định giá đứng sau.
Ví dụ tỷ giá giữa vnđ và usd sẽ được yết chính thức là usd/ vnđ với ý nghĩa là bao nhiêu đơn vị VNĐ thì đổi được một đơn vị USD. Tuy vậy, khi chuyển đổi vẫn tính theo sự biến động tại thời điểm đó.

2/ Các loại tỷ giá hiện nay

Về tỷ giá chúng ta có thể kể đến tỷ giá hối đoái, tỷ giá ngoại tệ,… tuy nhiên hôm nay chúng ta chỉ nói về tỷ giá nói chung và 4 loại tỷ giá mà bạn cần biết.
Cách phân loại cũng có nhiều tùy vào từng loại cho phù hợp, và thông thường sẽ được dựa trên các tiêu thức như nghiệp vụ giao dịch, thị trường yết giá, theo kỳ hạn hay theo mỗi quan hệ giữa các đồng tiền trên thế giới hiện nay.

a/ Loai tỷ giá theo nghiệp vụ giao dịch

Bạn có tỷ giá mua: chính là mức giá chủ thể được yết giá và họ sẵn sàng trả ra để mua được một đơn vị yết giá
Và tỷ giá bán: chính là mức giá chủ thể có thể đổi một đơn vị đồng tiền yết giá để có thể đổi lấy đồng tiền định giá
Ngoài ra, còn có tỷ giá liên ngân hàng – đây là tỷ giá có sự tham gia của các ngân hàng thương mại với nhau.

b/ Loại tỷ giá theo thị trường yết giá

Loại tỷ giá theo thị trường yết giá
Loại tỷ giá theo thị trường yết giá

Tỷ giá chính thức: đây là tỷ giá được công bố bởi cơ quan quản lý tiền tệ (chính là ngân hàng Trung Ương) và được áp dụng vào 1 thời kỳ nhất định.
Tỷ giá thị trường: chính là được hình thành bởi cơ sở cung – cầu của thị trường hiện tại.
Mỗi thời kỳ, mỗi quốc gia có yết giá khác nhau.

c/ Loại tỷ giá theo kỳ hạn

  • Tỷ giá giao ngay: chính là tỷ giá được áp dụng cho những hợp đồng mua bán ngoại tệ được thực hiện say 2 ngày làm việc kể từ ngày bắt đầu giao dịch.
  • Tỷ giá kỳ hạn: chính là hợp đồng được xác định trong thời gian dài như ký hôm nay nhưng lại được xác định vào 1 thời điểm khác trong tương lai. Tùy theo những quy định tỏng hợp đồng mà tỷ giá sẽ thay đổi theo biến động theo thời điểm khi thực thi hay giữ nguyên như khi ký hợp đồng.

d/ Mối quan hệ giữa các đồng tiền

  • Chỉ số tỷ giá danh nghĩa song phương: biểu thị sức mua danh nghĩa của 2 đồng tiền và chưa tính đến sự biến động về mức giá cả hàng hóa ở 2 quốc gia khác nhau
  • Chỉ số tỷ giá thực song phương: là tỷ giá danh nghĩa được điều chỉnh theo mức giá tương đối giữa 2 quốc gia.

Hiện tại, trong nền kinh tế mở thì việc tỷ giá là gì và nó tác động như thế nào đến các đối tượng tham gia vào các giao dịch, chuyển đổi trên thị trường ngoại hối khá sôi nổi.
Tỷ giá hối đoái, tỷ giá ngoại tệ từ các tổ chức tài chính, doanh nghiệp, ngân hàng,…. Và một khi tỷ giá thay đổi thì cũng sẽ dẫn đến sự thay đổi cung cầu ngoại tệ trên thị trường và từ đó có thể tác động lớn đến biến số kinh tế như thu nhập quốc dân, thất nghiệp, lạm phát

3. Lựa chọn chế độ tỷ giá ở Việt Nam

Trong luận án của mình “Đổi mới và hoàn thiện chính sách quản lý ngoại hối ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” (1995), tác giả Nguyễn Thị Thu Thảo [18] đã đề cập tới tỷ giá và chế độ tỷ giá. Trong đó, tác giả đã phân tích lợi thế cũng như hạn chế của chế độ tỷ giá cố định Bretton Woods và chế độ tỷ giá linh hoạt, từ đó khẳng định “chế độ tỷ giá hỗn hợp phù hợp và đạt hiệu quả tối ưu hơn cả”. Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc là 3 quốc gia Châu Á được viện dẫn trong luận án nhằm khẳng định việc áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý của Nhà nước một cách mềm dẻo, linh hoạt, khi thắt chặt, lúc nới lỏng phù hợp với từng giai đoạn đã tạo điều kiện cho nền kinh tế các nước này phát triển không ngừng. Ở Việt Nam, tại thời điểm 1995, cơ chế 2 tỷ giá cố định, cứng nhắc đã được thay thế bằng việc Ngân hàng Nhà nước công bố 1 tỷ giá chính thức và biên độ dao động so với tỷ giá chính thức. Dù luận án đã được thực hiện cách đây 16 năm, một khoảng thời gian đủ dài để mang tới nhiều thay đổi cho nền kinh tế thế giới và Việt Nam, điều chúng ta không thể phủ nhận là những lập luận của tác giả sẽ trở thành nguồn tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu tiếp theo về tỷ giá.
Trong luận án “Hoàn thiện cơ chế điều hành tỷ giá nhằm nâng cao hiệu quả chính sách tiền tệ ở Việt Nam”(2004), tác giả Lê Thị Tuấn Nghĩa [14] đã kết hợp nghiên cứu hai nội dung quan trọng là cơ chế điều hành tỷ giá và hiệu quả của CSTT, đồng thời dành một thời lượng khá lớn để phân tích các công cụ của CSTT như nghiệp vụ thị trường mở, dự trữ bắt buộc, lãi suất, hạn mức tín dụng, tỷ giá…. Kinh nghiệm từ các nước Mỹ, Hàn Quốc, và Trung Quốc đã được giới thiệu với trọng tâm là ba (03) công cụ: nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất tái chiết khấu, và dự trữ bắt buộc. Tác giả đã đề cập tới điều kiện Marshall-Lerner và mô hình của Mundell-Flemming trong phần cơ sở lý luận, tuy nhiên chưa tiến hành kiểm định với thực tế Việt Nam. Như đã trình bày trong Lời mở đầu, phạm vi nghiên cứu được nghiên cứu sinh xác định rõ là chính sách tỷ giá (không phải là chính sách tiền tệ, mặc dù chính sách tỷ giá là một bộ phận của chính sách tiền tệ), bao gồm việc lựa chọn chế độ tỷ giá và điều tiết tỷ giá thông qua công cụ phá giá tiền tệ, biên độ dao động và dự trữ ngoại hối. Đồng thời, nghiên cứu sinh đã tiến hành thu thập số liệu để kiểm định điều kiện Marshall-Lerner ở Việt Nam. Như vậy, công trình nghiên cứu của nghiên cứu sinh không có sự trùng lắp với đề tài luận án của tác giả Lê Thị Tuấn Nghĩa.
Tác giả Dương Thị Thanh Mai [12], trong luận án “Vận dụng mô hình phân tích chính sách tỷ giá ở Việt Nam”(2002) đã thu thập kinh nghiệm về điều hành tỷ giá tại ba quốc gia Venuezuela, Thái Lan và Trung Quốc (không phân chia thành các giai đoạn của các chế độ tỷ giá), đồng thời tiến hành kiểm định điều kiện Marshall – Lerner với trường hợp Việt Nam với năm gốc 1992 (kết quả kiểm định cho thấy tổng hệ số co giãn của cầu xuất nhập khẩu đối với tỷ giá danh nghĩa là 0,581, không thỏa mãn điều kiện Marshall – Lerner). Trong luận án của mình, nghiên cứu sinh tiến hành phân tích các biến số kinh tế vĩ mô quan trọng theo từng giai đoạn của chế độ tỷ giá, đồng thời không chỉ so sánh Việt Nam với Thái Lan và Trung Quốc mà còn với ba quốc gia láng giềng Đông Nam Á khác. Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn nhất giữa hai nghiên cứu lại nằm ở hệ số co giãn cầu xuất nhập khẩu của Việt Nam đối với tỷ giá (kết quả kiểm định của nghiên cứu sinh thỏa mãn điều kiện Marshall – Lerner). Phải chăng sự khác biệt này là do hai nghiên cứu được tiến hành trong hai thời kỳ khác nhau (1989-2000 và 2000-2011)? Để có thể lý giải được câu hỏi quan trọng này đòi hỏi phải có một sự nghiên cứu sâu sắc hơn.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Vụ Quản lý Ngoại hối, đã thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành, “Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái phù hợp
trong điều kiện hiện nay” (2009), với sự tham gia của Thạc sỹ Nguyễn Quang Huy (Chủ nhiệm đề tài) và các thành viên Ths. Đào Xuân Tuấn, Phí Đăng Minh, Nguyễn Thị Hồng, Nguyễn Thị Nhung, Ngô Thị Thu Trà, Hoàng Hải Lê, và Lê Thị Thanh Thủy [7]. Đề tài đã khẳng định cơ chế tỷ giá hiện nay của Việt Nam là cơ chế linh hoạt có quản lý, việc sử dụng công cụ tỷ giá bình quân liên ngân hàng và biên độ tỷ giá đã góp phần hạn chế tình trạng đầu cơ và tác động của biến động tỷ giá trên thị trường nước ngoài, hạn chế tình trạng nhập siêu, cải thiện cán cân thanh toán. Tuy nhiên, với những gì đã và đang diễn ra trong năm 2010-2011, có thể thấy chính sách tỷ giá của Việt Nam lại trở nên bị động và không phát huy được hiệu quả như vài năm trước đó. Điều đó chứng tỏ một mô hình phù hợp cho chính sách tỷ giá vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu.
Các tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng, Đinh Tuấn Minh, Tô Trung Thành, Lê Hồng Giang, Phạm Văn Hà [6] thuộc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà nội đã có bài nghiên cứu “Lựa chọn chính sách tỷ giá trong bối cảnh phục hồi kinh tế” (2010). Theo nhóm tác giả, Việt Nam đang theo đuổi cơ chế neo tỷ giá có điều chỉnh, và hiện nay cơ chế này hoạt động không hiệu quả. Cùng với việc so sánh tỷ giá chính thức và tỷ giá trị trường tự do trong năm 2009, tỷ giá thực tế và tỷ giá danh nghĩa giai đoạn 2000-2009, các tác giả cũng đã tính toán tỷ giá thực đa phương ở Việt Nam để đi đến kết luận: VND lên giá nhiều so với các đồng tiền của các nước đối tác. Đây là nguyên nhân của sự sụt giảm tính cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam và sự gia tăng nhập siêu của nền kinh tế nội địa. Bài nghiên cứu đã có 3 đề xuất quan trọng, đó là i, Việt Nam chuyển sang cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý; ii, khi từ bỏ cơ chế neo tỷ giá, NHNN Việt Nam phải trở nên độc lập và iii, hiện đại hóa thị trường ngoại hối.

4. Các các nhân tố tác động đến tỷ giá

Chênh lệch lạm phát

Giả sử trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, lạm phát của Nhật tăng cao đột ngột so với Mỹ. Do JPY mất giá, người dân Nhật sẽ có nhu cầu về USD hơn là JPY. Trong khi đó, hàng hóa Nhật xuất khẩu ra nước ngoài lại trở nên đắt hơn tương đối, người dân Mỹ sẽ giảm nhu cầu mua hàng của Nhật. Như vậy, cầu USD tăng và cung USD giảm gây áp lực khiến cho tỷ giá USD/JPY tăng, tức là USD lên giá.

Chênh lệch lãi suất

Giả sử trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, lãi suất đồng JPY tăng so với lãi suất USD. Trong khi nhà đầu tư Nhật sẽ đầu tư vào JPY thay vì USD (cầu USD giảm), nhà đầu tư Mỹ cũng chuyển việc nắm giữ USD sang đầu tư vào JPY (cung USD tăng). Kết quả là tỷ giá USD/JPY giảm, tức đồng Yên lên giá.

Chênh lệch thu nhập

Giả sử trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, mức thu nhập của Nhật Bản tăng tương đối so với Mỹ, thu nhập của người dân Mỹ không tăng. Người dân Nhật có thêm nhu cầu mua hàng hóa của Mỹ (cầu USD tăng). Như vậy, tỷ giá USD/JPY có xu hướng tăng, tức là JPY giảm giá.

Thay đổi chính sách quản lý

Trở lại với ví dụ lãi suất đồng Yên tăng tương đối so với lãi suất USD.
Người dân và nhà đầu tư Mỹ có xu hướng tung USD ra để mua về JPY. Tỷ giá có xu hướng tăng. Trong tình huống đó, Chính phủ Mỹ có thể áp dụng biện pháp tăng thuế thu nhập đối với các khoản lãi từ đầu tư ra nước ngoài, nhằm giảm nhiệt việc đổi USD lấy JPY, từ đó giảm tỷ giá.

Thay đổi kỳ vọng về tỷ giá

Giả sử trước thông tin rằng lạm phát của Nhật sẽ gia tăng, hoặc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) chuẩn bị tăng lãi suất, nhà đầu tư sẽ có nhu cầu nắm giữ USD nhiều hơn, khiến cho đồng Yên bị giảm giá.
Các bài có thể xem thêm:
Nghiệp vụ thị trường mở
Nghiên cứu hành vi mua sắm trực tuyến
Mô hình kim cương

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *